Connect with us

Kinh tế

Bất động sản công nghiệp hút những ngành nghề giá trị cao

Published

on

Việt Nam đang tiếp tục thu hút các nhà đầu tư công nghiệp có giá trị cao như sản xuất thiết bị công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, kho lạnh công nghiệp…

Savills đánh giá, dù thị trường hiện có trầm lắng so với quý II, sự quan tâm của nhà đầu tư với mảng bất động sản công nghiệp Việt Nam vẫn rất lớn. Vì vậy, có thể hy vọng thị trường sẽ hồi phục nhanh chóng khi dịch bệnh được kiểm soát.

Thị trường công nghiệp Việt Nam đang chuyển đổi từ các ngành công nghiệp giá trị thấp (sử dụng lao động kỹ năng thấp và số lượng công nhân lớn) sang các ngành công nghiệp có giá trị cao (lao động có kỹ, trình độ cao hơn). Trước đây, dệt may, đồ nội thất là những ngành sản xuất mặt hàng giá trị thấp được tập trung thu hút. Còn với các định hướng mới, Việt Nam đang nhắm đến mời gọi các doanh nghiệp sản xuất giá trị cao hoặc các loại hình bất động sản công nghiệp mới, bao gồm các ngành sản xuất thiết bị công nghệ cao, các cơ sở nghiên cứu, trung tâm dữ liệu hay kho lạnh công nghiệp.

Ông John Campbell, Trưởng bộ phận bất động sản công nghiệp nhận định, việc chuyển đổi sang thu hút các lĩnh vực sản xuất có giá trị cao sẽ mang lại nhiều cơ hội, tương lai tích cực hơn cho mảng bất động sản công nghiệp.

Thực tế, khi các chi phí thuê bất động sản tăng cao, số lượng doanh nghiệp trong các ngành sản xuất với tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ giảm xuống. Những công xưởng sản xuất da giày, thời trang lớn với quy mô 10.000 công nhân sẽ dần di chuyển tới những khu vực xa hơn nơi chi phí thấp hơn, thậm chí có thể là các nước lân cận như Campuchia hay Myanmar.

“Có thể thấy, các nhà phát triển Việt Nam đang tập trung nhiều hơn vào việc thu hút các nhà sản xuất giá trị cao, đơn cử như lĩnh vực linh kiện điện tử hoặc ôtô từ châu Âu và Mỹ”, ông John Campbell nhận xét.

Ví dụ điển hình trong nỗ lực thu hút các ngành công nghiệp giá trị cao là tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc. Trong 10-20 năm trở lại đây, miền Bắc đã bắt đầu đón nhận những sóng đầu tư khá lớn với các tập đoàn điện tử như Samsung, LG hay các nhà sản xuất xe hơi như Honda và gần đây là Vinfast. Sự hiện diện của các tập đoàn quốc tế lớn đồng thời là đòn bẩy cho sự phát triển của thị trường bất động sản bán lẻ lân cận, khi các nhà cung cấp phụ tùng và nguyên liệu thường có nhu cầu thuê nhà xưởng diện tích khoảng 1.000 – 2.000 m2 gần các nhà sản xuất lớn này.

Mặt khác, Savills nhìn nhận, Việt Nam đã có các dự án bất động sản công nghiệp chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của khách thuê doanh nghiệp quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao. Ông Matthew Powell, Giám đốc Savills Hà Nội cho biết: “Nhu cầu về trung tâm dữ liệu đang ngày càng lớn tại Việt Nam, với việc các trung tâm dữ liệu nằm không xa các đô thị lớn như Hà Nội và TP HCM”.

Hiện các doanh nghiệp có nhu cầu lựa chọn vị trí đặt trung tâm dữ liệu có nguồn điện ổn định, cấu trúc kỹ thuật rõ ràng, có hệ thống và khả năng bảo vệ với các tác động bên ngoài. Yếu tố về kết nối cũng rất quan trọng để đảm bảo tất cả hệ thống liên quan đến việc cung cấp dịch vụ không bị tác động bởi các yếu tố vật lý hoặc thời tiết bên ngoài, gây gián đoạn dịch vụ.

Theo Giám đốc Savills Hà Nội, trong vòng vài năm tới, thị trường sẽ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của loại hình bất động sản này, đặc biệt khi hiện nay các nhà đầu tư quốc tế đang tích cực tìm kiếm mặt bằng, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển các trung tâm dữ liệu tại Việt Nam.

Tuy nhiên, để đáp ứng cho xu hướng dịch chuyển mới, Savills lưu ý về việc cải thiện chất lượng lao động. Việt Nam cần tiếp tục đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, toán học và khoa học. Việc Chính phủ thông qua đề xuất lập kế hoạch phát triển kỹ năng quốc gia được kỳ vọng là một trong những yếu tố trọng tâm củng cố niềm tin của nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển của thị trường.

Mặt khác, Hiệp định EVFTA mà Việt Nam tham gia cũng hứa hẹn đem lại những lợi ích cải thiện nguồn lao động thông qua chuyển giao công nghệ, kiến thức, máy móc… Tuy nhiên, thời gian để đạt được có thể rất dài, thậm chí lên đến 50 năm, theo ông John Campbell. Dù vậy, khi số lượng lao động có tay nghề cao và công nghệ phát triển, thị trường Việt Nam sẽ trở nên thu hút hơn đối với nhà sản xuất các nhóm ngành giá trị cao.

Đức Minh – Vnexpress

Kinh tế

Tiền vào chứng khoán chững lại

Published

on

By

Thanh khoản trên sàn TP HCM và Hà Nội đều giảm mạnh, tổng giá trị sang tay chưa đến 22.000 tỷ đồng.

Thị trường chứng khoán kéo dài xu hướng đi ngang trong phiên giữa tuần khiến nhà đầu tư chưa mặn mà giải ngân. Chỉ số đại diện cho sàn TP HCM và Hà Nội hôm nay diễn biến tương đồng khi giằng co mạnh, đảo chiều liên tục quanh tham chiếu và đóng cửa trong sắc đỏ. VN-Index chốt ngày tại 1.339,21 điểm, mất 0,1 điểm còn HNX-Index giảm 1,74 điểm xuống 354,29 điểm.

Giá trị giao dịch trên sàn TP HCM đạt 17.235 tỷ đồng, giảm hơn 1.100 tỷ đồng so với hôm qua và trở thành phiên có thanh khoản thấp nhất trong hơn một tháng qua. Giá trị giao dịch trên UPCoM đạt 1.310 tỷ đồng, cũng thấp nhất một tháng còn sàn niêm yết Hà Nội đạt 3.085 tỷ đồng.

Dòng tiền hôm nay phân bổ nhiều ở cổ phiếu ngành nguyên vật liệu và tài chính với giá trị giao dịch lần lượt đạt 3.752 tỷ đồng và 3.596 tỷ đồng. Sức hút của nhóm bất động sản, công nghiệp và tiêu dùng thiết yếu giảm mạnh khi giá trị giao dịch không hơn 2.200 tỷ đồng.

HPG đóng góp thanh khoản nhiều nhất với hơn 1.855 tỷ đồng, nhiều hơn giá trị giao dịch của 4 cổ phiếu xếp tiếp theo là STB, VPB, POW và HSG cộng lại. 10 cổ phiếu đứng đầu về thanh khoản chia làm 3 nhóm, trong đó xuất hiện nhiều nhất là ngân hàng, tiếp đến là thép và dầu khí.

Sau khi giải ngân mạnh trong phiên tăng hôm qua, khối ngoại đã trở lại bán ròng. Giá trị bán ra của nhóm này hơn 1.250 tỷ đồng, trong khi chỉ mua vào khoảng 740 tỷ đồng. HPG, GAS, STB và CTG là những cổ phiếu chịu áp lực xả hàng nhiều nhất.

Nhóm phân tích Công ty Chứng khoán MB nhận định, dòng tiền nhiều khả năng chưa tăng trở lại. Thanh khoản sụt giảm là điều dễ hiểu khi nhà đầu tư còn nghi ngờ những phiên tăng giảm gần đây đến từ yếu tố kỹ thuật. Tuy nhiên, trong các phiên tới, nhóm cổ phiếu vốn hoá vừa và nhỏ có triển vọng giao dịch sôi động hơn.

Phương Đông – Vnexpress

Continue Reading

Kinh tế

Dragon Capital chỉ ra nhóm ngành hưởng lợi khi tái mở cửa kinh tế

Published

on

By

Ngân hàng hưởng lợi nhờ lãi suất thấp kéo dài, ngành vật liệu xây dựng và bất động sản có động lực từ đầu tư công trong khi nhóm dịch vụ, F&B có thể còn khó khăn.

Tại chương trình “Chiến lược đầu tư đón trạng thái bình thường mới” ngày 28/9, ông Nguyễn Sang Lộc, Trưởng phòng quản lý danh mục đầu tư, Dragon Capital Việt Nam cho biết làn sóng Covid-19 lần thứ 4 đã thay toàn bộ yếu tố cơ bản của một số ngành nghề trong dài hạn.

Khác với nhiều nhận định trên thị trường, quỹ đầu tư này không quá lạc quan vào triển vọng của các nhóm ngành du lịch, vận tải hành khách hay nhà hàng… dù có thể quay lại hoạt động bình thường trong 12-18 tháng tới. Theo giải thích của ông Lộc, “điều quan trọng là tâm lý người dùng chưa sẵn sàng quay trở lại”.

Lấy ví dụ việc Phú Quốc thí điểm mở cửa lại du lịch nhưng ổ dịch xuất hiện tại hòn đảo này sau đó, đã khiến người dân lo ngại và bất an, ông Lộc cho rằng xu hướng tâm lý e dè và thận trọng sẽ tiếp tục kéo dài trong thời gian tới. Tâm lý này chỉ có thể giải toả khi Việt Nam đạt được trạng thái miễn dịch cộng đồng, nhanh nhất vào năm sau.

Ông Nguyễn Sang Lộc, Trưởng phòng quản lý danh mục đầu tư, Dragon Capital Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Chụp màn hình
Ông Nguyễn Sang Lộc, Trưởng phòng quản lý danh mục đầu tư, Dragon Capital Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Chụp màn hình

Ở chiều hướng khác, một số ngành được chuyên gia của Dragon Capital Việt Nam đánh giá là “điểm sáng” khi mở cửa lại nền kinh tế là ngân hàng, vật liệu xây dựng hay bất động sản.

Trong đó, động lực của nhóm ngành bất động sản đặc biệt là vật liệu xây dựng đến từ tình thế “bắt buộc” giải ngân đầu tư công, theo ông Lộc.

Đầu tư công trong 3 quý đầu năm chưa đạt được như kỳ vọng một phần do tác động của đợt dịch lần thứ 4. Đã 9 tháng đầu năm nhưng giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt 50% kế hoạch cả năm. Tuy nhiên, theo đánh giá của Dragon Capital Việt Nam, Chính phủ sẽ phải tăng giải ngân đầu tư công trong giai đoạn để bù đắp lại tăng trưởng yếu của khối tư nhân, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế.

Còn với nhóm ngân hàng, lãi suất được dự đoán duy trì ở mức thấp trong thời gian dài sẽ là yếu tố ủng hộ ngành này.

Theo đánh giá của chuyên gia Dương Phạm, phụ trách mảng ngân hàng tại Dragon Capital, Việt Nam là một trong số ít quốc gia được hưởng lợi lớn nhất từ môi trường lãi suất thấp. Mặt bằng lãi suất của các nước trong khu vực đã rất thấp nên không còn nhiều dư địa giảm như tại các ngân hàng Việt. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng tận dụng được chi phí vốn rẻ từ nước ngoài với mức lãi suất 3% mỗi năm, thấp hơn vốn huy động trong nước. Hiện nay, việc huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài chiếm 5,5% tổng huy động của các ngân hàng Việt, tăng lên gấp so với 2018.

Nợ xấu có xu hướng tăng nhưng theo đánh giá của Dragon Capital Việt Nam, viễn cảnh của ngành ngân hàng có sự khác biệt lớn so với giai đoạn 2012-2015 nhờ chủ động có “đòn phủ đầu” trong việc nâng cao chất lượng tài sản. Theo ước tính của quỹ này, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của các ngân hàng cao nhất lịch sử, đạt khoảng 136%. Tỷ lệ bao phủ trên tổng nợ cũng đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Đợt dịch lần thứ 4 trên thực tế đã khiến ngành sản xuất và dịch vụ giảm sâu so với các đợt dịch trước, nhưng theo ông Lê Anh Tuấn, Giám đốc Hoạch định chiến lược đầu tư Dragon Capital, tốc độ phục hồi sẽ nhanh hơn.

Điều này nhờ vào thay đổi trong chiến dịch từ “zero Covid-19” sang “sống chung với Covid-19”. Các ngành sản xuất theo quan điểm của quỹ đầu tư này, sẽ phục hồi nhanh hơn nhóm ngành dịch vụ. Theo đó, ngành sản xuất có thể đạt được mức công suất như trước dịch vào quý I/2022, còn khu vực dịch vụ sẽ phục hồi vào cuối quý I – đầu quý II/2022, ông Tuấn dự báo.

Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng số lượng nhà đầu tư cá nhân. Nguồn: Dragon Capital
Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình “tăng trưởng số lượng nhà đầu tư cá nhân”. Nguồn: Dragon Capital

Toạ đàm giữa các chuyên gia của Dragon Capital về cơ hội đầu tư đóng sóng kinh tế mở cửa trở lại sau đợt dịch thứ tư.

Cũng theo đánh giá của ông Lê Anh Tuấn, định giá chứng khoán của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn ở mức hấp dẫn với so với nhiều nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines, Ấn Độ… Cùng với đó, số lượng tài khoản cá nhân mở mới tăng mạnh nhưng Việt Nam vẫn “ở trong giai đoạn đầu” của quá trình tăng trưởng số lượng nhà đầu tư cá nhân, tương tự như giai đoạn của Đài Loan cách đây hơn 30 năm.

Thị trường có thể tiếp tục đi ngang tích lũy trong ngắn hạn trong khi dịch bệnh dần được kiểm soát và giãn cách xã hội sẽ được nới lỏng dần. Tuy nhiên, quỹ đầu tư này đánh giá, tăng trưởng lợi nhuận tích cực và định giá hấp dẫn là động lực tăng trưởng kép của thị trường. Số lượng nhà đầu tư trong nước ngày càng phát triển mạnh là nền tăng vững chắc để thị trường tăng trưởng trong dài hạn.

Quỳnh Trang – Vnexpress

Continue Reading

Kinh tế

Lãng phí gần 3 tỷ USD mỗi năm vì không tái chế rác thải nhựa

Published

on

By

Chỉ khoảng một phần ba rác thải nhựa ở Việt Nam được tái chế, khiến nền kinh tế lãng phí từ 2,2 tỷ đến 2,9 tỷ USD mỗi năm.

Theo báo cáo “Nghiên cứu Thị trường cho Việt Nam – Cơ hội và rào cản đối với tuần hoàn nhựa” do IFC vừa công bố, mỗi năm, khoảng 3,9 triệu tấn nhựa PET, LDPE, HDPE và PP được tiêu thụ tại Việt Nam. Trong số này, chỉ 1,28 triệu tấn (33%) được thu gom tái chế (CFR).

Do vậy, có tới 2,62 triệu tấn nhựa bị thải bỏ, dẫn đến mất 75% giá trị vật liệu của nhựa, tương đương từ 2,2 – 2,9 tỷ USD mỗi năm. Nếu tất cả được thu gom và tái chế thành các sản phẩm có giá trị nhất, về lý thuyết tổng giá trị vật liệu giải phóng được nhờ tái chế sẽ tương đương 3,4 tỷ USD mỗi năm.

Tỷ lệ thu gom tái chế (CFR) của các loại rác thải nhựa. Nguồn: IFC
Tỷ lệ thu gom tái chế (CFR) của các loại rác thải nhựa. Nguồn: IFC

Các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tái chế nhựa thấp ở Việt Nam như thiếu nhu cầu bền vững đối với nhựa tái chế tại địa phương, khả năng tiếp cận tài chính của đơn vị tái chế, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, còn do nguồn cung không đều và có rủi ro từ khu vực phi chính thức, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu phế liệu nhựa, không có tiêu chuẩn thiết kế để tái chế, và hệ thống quản lý chất thải ưu tiên thu gom và xử lý hơn so với tái chế.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đánh giá, đầu tư vào hạ tầng quản lý rác thải vẫn chưa bắt kịp tốc độ xả thải. “Khu vực nhà nước và tư nhân cần hợp tác để giải quyết vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội phức tạp này, đồng thời thúc đẩy các chính sách và tăng cường đầu tư để giúp tận dụng triệt để giá trị của vật liệu nhựa”, vị này nói.

Nghiên cứu đã đề xuất 8 giải pháp và 29 hành động để Việt Nam giải phóng thêm giá trị vật liệu thông qua tái chế nhựa. Một số khuyến nghị đáng chú ý như mở rộng quy mô ngành công nghiệp tái chế nội địa bằng cách cải thiện môi trường thuận lợi cho đầu tư của khu vực tư nhân.

Cùng với đó, cần tăng cường năng lực quản lý rác thải, thiết lập “mục tiêu về hàm lượng tái chế” đối với các sản phẩm phổ biến đến tay người sử dụng, và yêu cầu bắt buộc phải thực hiện các tiêu chuẩn “thiết kế để tái chế” đối với các sản phẩm nhựa, đặc biệt đối với bao bì, cùng nhiều kiến nghị khác.

“Nâng cao lợi ích kinh tế của việc tái chế nhựa sẽ giúp huy động đầu tư nhiều hơn của khu vực tư nhân để giải quyết hiểm họa ô nhiễm nhựa, đồng thời hỗ trợ các ngành quan trọng như du lịch, vận tải biển và thủy sản, vốn đang bị ảnh hưởng nặng nề”, ông Kyle Kelhofer, Giám đốc Quốc gia IFC phụ trách Việt Nam, Campuchia, và Lào, đánh giá.

Viễn Thông – Vnexpress

Continue Reading
Advertisement

Trending

Liên hệ quảng cáo 0767.866.899. Hợp tác nội dung hieunguyen@star.vn
Một chuyên trang của Star.vn - Công Ty TNHH Techme